Quan niệm về Viết của Gilles Deleuze

Rosi Braidotti – trích Từ điển Deleuze, biên tập bởi Adrian Parr.

Thông tin tác giả: Rosi Braidotti là giáo sư ngành Nhân văn ở Utrecht University, là viện trưởng/sáng lập viên của Centre for Humanities và giáo sư danh dự tại Law School at Birkbeck College, London University. Những công trình xuất bản của bà xoay quanh triết học nữ quyền, nhận thức luận, chủ nghĩa hậu cấu trúc và phân tâm học.

***

Tư tưởng nhất nguyên (monism) của Deleuze không phân loại sự khác biệt giữa suy tư và sáng tạo, vẽ và viết, khái niệm và tri giác. Tất cả chúng đều là những biến thể của sự thử nghiệm (experimentation), hay chi tiết hơn, một sự thử nghiệm với những cường độ (intensities) dung dưỡng các dạng thức của sự trở thành (becoming). Sự thử nghiệm làm bộc lộ những cách thức có tính liên kết khác nhau; chúng ban hành một quy trình sáng tạo vốn không được thiết lập bởi sự phô bày một bản chất cốt lõi không biến chuyển, hay telos. Sự sáng tạo được hiểu như một quá trình chuyển hoá có tính đa nguyên và phức tạp, nếu không phải thì nó là sự tuôn trào của cái trở thành. Nói đơn giản, sự sáng tạo xác nhận những cấu trúc khẳng định của sự khác (positive structure of difference).

Sự viết vì vậy không phải sự tự tiền giả định của một chủ thể tưởng tượng duy lý tự phong, thay vào đó là sự trục xuất chủ thể này. Viết có nhiệm vụ làm trống rỗng cái tôi, mở tung nó ra tuỳ thuộc vào những cuộc đụng độ khả dĩ với một loạt những cái bên ngoài có tính mãnh cảm. Con mắt của người viết bắt lấy thế giới bên ngoài kia bằng cách từng phút tiếp thu những gì có vẻ không liên quan. Giữa những khoảnh khắc của cái nhận thức trôi nổi ấy, khi sự kiểm soát duy lý nhả điểm tựa của nó ra, “thực tại” mạnh mẽ đổ tràn vào những thiết chế tri cảm. Sự tấn công của dữ liệu, thông tin và cảm giác đồng thời đẩy cái tôi khỏi hố đen của sự cô lập nguyên tử, phân tán nó vào vô số những thông số dữ liệu. Bị phục kích, cái tôi không chỉ tiếp nhận cảm giác, nó còn đồng thời sắp xếp lại chính mình xung quanh những cảm giác ấy. Một sự liên kết có tính phân sinh rễ (rhizomic) đã được thiết lập từ đó, thông qua hình học đơn nhất của những cảm giác tham gia vào và mặt phẳng thành phần cụ thể của chúng, xác nhận sự đặc biệt của chủ thể được sản xuất ra qua mặt phẳng của sự nội tại (plane of immanence).

Mỗi người cần phải làm cân bằng tác động của sự cảm nhiễm (affectivity): họ phải “giữ lấy” nó. Nhưng sự giữ lấy hay nắm bắt lấy cảm giác không xảy ra một cách biện chứng trong nội tại của một kiểu nhận thức có tính bá quyền. Thay vào đó, nó mang dạng thức của một chủ thể nhiễm cảm, giải cá nhân hoá (depersonalized), dễ thụ cảm cao độ vốn đơn giản là khá không đồng nhất. Điểm đặc biệt của tính chủ thể phân sinh rễ này nằm trên trục toạ độ không-thời gian vốn làm cho nó trùng hợp với không thứ gì khác ngoài những mức độ, nấc thang, sự giãn nở và mở rộng của cái “bên ngoài”, khi nó lao thẳng vào, hướng nội hoặc hướng ngoại. Thứ được di động là những khả năng của một người trong việc cảm, thấu, phân tích và giữ cân bằng tác động trong sự kết hợp với tính cụ thể phức tạp của cái bên ngoài; một dạng nhạy cảm vừa lỏng lẻo vừa tự cân bằng, hoặc một dòng chảy của sự nhận thức vốn có nhiều lỗ hổng mở đường ra cái bên ngoài. Văn hoá của chúng ta gọi quy tắc này là “sự nữ tính”. Sự sáng tạo thuần khiết là một dạng thức mỹ học của sự nhúng mình vào sự khai mở và bọc lại của sự nhạy cảm của một người trong những trường xung lực mà người đó sống trong – âm nhạc, màu sắc, ánh sáng, tốc độ, nhiệt độ và cường độ.

Bởi sự liên kết có tính lịch sử vốn buộc chặt sự viết với những thiết chế quyền lực, thực hành viết đã đóng một vai trò thực dụng đặc biệt; nó là công cụ có thể được sử dụng để giải mã quyền lực chuyên chế của cái biểu đạt ngôn ngữ học (linguistic signifier). Theo cách này, lối viết dày dặn đặc biệt gắn liền với Deleuze đã đánh dấu sự kết thúc của bước ngoặt ngôn ngữ (the linguistic turn), nhất là khi ông thả chủ thể khỏi chiếc lồng của tư duy tái trình hiện. Việc viết vì thế không thể hoặc được giải thích trong sự tương quan với những lý thuyết phân tâm học về sự “thiếu vắng” có tính biểu tượng (the linguistic “lack”), hoặc bị triệt thoái xuống còn một cơ cấu tổ chức của sự tội lỗi, hoặc trong cấu trúc quyền lực của cái biểu đạt thống trị. Viết là một cách tiếp cận chuyên sâu để chỉ ra tính năng sản, thay vì triệt thoái. Theo cách khác, Deleuze khẳng khái cho rằng sự viết là sự cấu trúc hoá cảm giác vốn làm sống động chủ thể. Ở trung tâm của lý thuyết phân sinh rễ của Deleuze là một lối đọc có tính khẳng định của con người như một sự xác quyết, một cỗ máy dễ tổn thương trước tiêu khiển và mọi dạng xung lực trao quyền khác. Đây chỉ là câu hỏi của việc thiết lập những kết nối và cộng hưởng có tính tích cực và thậm chí hân hoan.

Đối với Deleuze, thứ đang bị đe doạ ở việc viết là nó không phải sự thao túng của một tập hợp quy ước ngôn ngữ và tự sự; cũng chẳng phải sự thâm nhập có tính thần kinh học của một vật thể; cũng chẳng phải sự cưỡng đoạt một chủ đề. Viết là một sự định hướng; nó là một kỹ năng bao gồm việc phát triển nên chiếc la bàn nhận thức, xúc cảm và đạo đức. Nó thật đơn giản là sự thực tập trong nghệ thuật tô màu khái niệm và tri giác.

Một hình ảnh mới, hoặc một khái niệm triết học, là một cảm giác đột thủng những khung hình và trình hiện được thiết lập trước đó. Nó phác hoạ nên một lãnh thổ thông qua những đường hướng của toạ độ; nó làm hiện hình/khả tư/khả ngôn/khả âm những xung lực, đam mê và cảm giác vốn trước đây không thể được tiếp nhận. Vì thế, câu hỏi của sự sáng tạo là có tính kỹ thuật một cách tuyệt đối: nó là một trong những câu “như thế nào?” Nó cũng có tính địa lý: “ở đâu?” và “trong lãnh thổ nào?”. Cuối cùng, nó có tính đạo đức: nó quan tâm đâu là những giới hạn có thể được đặt ra và bằng cách nào có thể làm ổn định sự biến dịch trạng thái, hoặc những trạng thái của sự thay đổi.

Leave a Reply

Your email address will not be published.