Michel Foucault – Sự biến mất của loài người

Vũ Hoàng Long dịch bài phỏng vấn Sự biến mất của loài người (The Disappearance of Man) thực hiện với triết gia Michel Foucault năm 1966.

Vũ Hoàng Long dịch bài phỏng vấn Sự biến mất của loài người (The Disappearance of Man) thực hiện với triết gia Michel Foucault năm 1966.

Q: Quan điểm của ông về loài người là gì?

A: Tôi cho rằng [ý niệm về] loài người đã trở thành một bóng ma (nếu không nói đến là một cơn ác mộng), ít nhất là với một vài dung mạo cụ thể, đã được xác định một cách lịch sử trong văn hoá của chúng ta.

Q: [Ý niệm về] loài người có phải một phát minh không?

A:
Nó là một phát minh. Trong thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, người ta tin rằng ý niệm về loài người là thực tại căn bản thuộc về ý muốn của chúng ta. Ta có một ấn tượng rằng việc đi tìm sự thật về con người đã xúi giục toàn bộ thực hành nghiên cứu, có thể là với khoa học, chắc chắn là với đạo đức học, và hiển nhiên là với triết học. Khi chúng ta nhìn mọi thứ gần hơn, chúng ta phải hỏi là có hay không ý niệm về loài người về cơ bản là tồn tại hiển nhiên, và luôn ở đó chờ đợi được phát hiện và giải thích bởi khoa học hay triết học. Chúng ta phải tự hỏi rằng ý niệm này có phải một ảo ảnh hay không, một ảo ảnh của thế kỷ 19.

Cho đến cuối thế kỷ 18, cho tới Cách mạng Pháp, chúng ta chưa bao giờ đối diện với khái niệm loài người. Thật tò mò là kiến nghị của chủ nghĩa nhân văn mà chúng ta đổ cho từ khởi điểm thực ra lại là một kiến nghị rất mới. Bạn không thể tìm được từ ‘nhân văn’ sớm hơn bởi vì chủ nghĩa nhân văn là một phát kiến của thế kỷ 19. Trước thế kỷ 19, có thể nói là ý niệm về con người chưa từng tồn tại. Những gì từng tồn tại là một loạt những vấn đề, là một loạt những dạng thức của tri thức và tư duy, nơi người ta đặt câu hỏi về tự nhiên, về chân lý, về sự vận động, về trật tự, về trí tưởng tượng hay về tái trình hiện, v.v. Nhưng chưa từng thực sự có một câu hỏi về loài người.

Loài người là một nhân vật được cấu thành vào khoảng cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, thứ tạo cho sự trỗi dậy của cái mà chúng ta đang gọi là những khoa học về con người. Kiến nghị mới về loài người được phát minh ra vào cuối thế kỷ 18 cũng tạo ra sự trỗi dậy cho chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa nhân văn của chủ nghĩa Marx, của chủ nghĩa Hiện sinh, của những sự thể hiện hiển nhiên nhất trong hiện tại. Nhưng tôi tin rằng, mâu thuẫn là, sự phát triển của những khoa học về con người giờ đã dẫn dắt tới sự biến mất của ý niệm loài người hơn là sự tôn sùng loài người. Chắc chắn, đây là những gì đang diễn ra với những khoa học về con người. Những khoa học về con người không khám phá ra bản chất vững chắc nhất của cá thể, của những dạng thức tồn tại của con người. Mà đối lập, khi bạn nghiên cứu, để tôi lấy ví dụ, cấu trúc thái độ của gia đình như Levi-Strauss đã làm, hay khi bạn nghiên cứu về những huyền thoại châu Âu vĩ đại như Dumezil đã làm, hay khi bạn nghiên cứu về lịch sử của tri thức, bạn tìm ra, không phải những chân lý thực chứng về loài người. Thứ ta tìm ra là những hệ thống tư duy lớn, những kiến tạo có tính chính thức, nó là bậc thềm để tính cá thể xuất hiện trong lịch sử.

Điều này có nghĩa là, những ý niệm hiện hành đã bị đảo ngược từ một vài năm trở lại đây. Tôi nghĩ chúng ta đang chứng kiến một sự đứt gãy lớn giữa thế kỷ 19 và phần đầu thế kỷ 20. Đứt gãy này nằm ở đáy của những trải nghiệm của chúng ta. Không phải một sự phủ nhận, nhưng là một sự xa cách với Sartre. Tôi nghĩ Sartre là một triết gia vĩ đại, nhưng Sartre vẫn là một con người của thế kỷ 19. Vì sao? Vì toàn bộ nền tảng của Sartre là biến loài người, bằng một cách nào đó, có thẩm quyền với ý nghĩa của chính đời họ. Mọi nền tảng của Sartre bao gồm trong ham muốn đi tìm cái gì là tuyệt đối chính xác trong sự tồn tại của loài người. Ông ấy muốn mang loài người lại cho chính mình, biến loài người thành kẻ chiếm hữu ý nghĩa, thứ có thể đào thoát khỏi nó. Tư tưởng của Sartre được xác định trong một triết lý của sự tha hoá. Còn chúng ta mong muốn làm điều ngược lại, để thể hiện ra một cách đối lập, rằng một cá thể, một thiểu số, một thứ gì sống như là một con người, chỉ là một dạng bề nổi lóng lánh, trên đỉnh của những hệ thống tư duy lớn, và những tư tưởng của chúng ta giờ phải xây dựng lại những hệ thống lớn mà trên đó nổi lên những gợn sóng và những hình ảnh của sự tồn tại của chính loài người.

Q: Làm thế nào những quan điểm chính trị có thể xuất phát từ những thành quả của ông?

A:
Tất nhiên, đây có thể là một câu hỏi được nảy ra với mọi dạng của sự phản chiếu đang phá huỷ huyền thoại nhưng chưa gây dựng nên những huyền thoại mới. Ví dụ, trong một khoảng thời gian dài, triết học đã có mối quan hệ khăng khít với thần học. Vai trò của triết học là định nghĩa đạo đức, chính trị, những thứ chúng ta có thể suy luận từ sự tồn tại của Chúa. Khi triết học và văn hoá khám phá ra rằng “Chúa đã chết”, nó lập tức tuyên bố rằng mọi thứ đều có thể được thừa nhận. Nếu Chúa chết rồi thì làm gì có đạo đức [tuyệt đối]? Nếu Chúa chết rồi thì chính sách chúng ta có thể thực hiện là gì? Những trải nghiệm chỉ ra rằng sự phản tỉnh mang tính chính trị học và đạo đức học chưa bao giờ sống động và phong nhiêu hơn từ khoảnh khắc Chúa chết.

Và giờ ý niệm loài người đang biến mất, những câu hỏi được đặt ra tương tự như những thứ chất vấn khoảnh khắc Chúa đã chết. Nếu loài người đã chết, điều gì cũng có khả năng, hay chính xác hơn, chúng ta sẽ được bảo rằng điều gì cũng cần thiết. Những điều được khám phá ra từ khoảnh khắc Chúa chết, những thứ được khám phá ra từ sự vắng mặt của một thực thể siêu linh, là một không gian của tự do. Thứ giờ được khám phá ra trong sự biến mất của loài người là một không gian vô cùng hẹp được bỏ lại bởi con người, thứ sẽ được gợi nhắc trong một chiếc khung tham chiếu của sự cần thiết, một mạng lưới những hệ thống chúng ta thuộc về nói với chúng ta rằng điều gì là cần thiết. Nếu như có một không gian cho tự do, cho những hệ thống chính trị và đạo đức lớn được bỏ lại từ sự vắng mặt của Chúa, ví dụ như hệ thống Marxist, Nietzsche hay chủ nghĩa Hiện sinh, chúng ta có thể nhìn vượt lên những mạng lưới của sự cần thiết, thứ mà chúng ta đang cố gắng xác định, những lựa chọn chính trị hay lựa chọn đạo đức.

Và tôi cũng phải nói rằng ngay cả khi chúng ta không nhìn thấy nó đi chăng nữa thì từ giờ không ai có thể dự phán tương lai. Nó chẳng thành vấn đề gì nếu chúng ta không làm điều đó. Điều được khám phá ra những năm gần đây là văn học không còn được làm ra chỉ để giải trí, hay âm nhạc được làm ra chỉ để có cảm giác về nội tạng. Tôi băn khoăn rằng có hay không chúng ta không khám phá ra rằng tư tưởng có thể làm điều gì đó khác thay vì chỉ mô tả trước những gì con người phải làm. Thật tốt nếu tư tưởng có thể hoàn toàn tự nghĩ về chính nó, nếu tư tưởng có thể tự khám phá ra những gì là vô thức trong những tầng sâu nhất của tư duy của chúng ta.

Leave a Reply

Your email address will not be published.