Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tập thể, và chủ nghĩa tư bản tân tự do

Với thị trường toàn cầu cũng như mô hình kinh tế bao phủ lên thế giới hiện tại, những lập luận về sự phát triển dựa vào những nhị phân (dichotomy) Chủ nghĩa Cá nhân-Chủ nghĩa Tập thể, Phương Tây-Phương Đông là hoàn toàn vô nghĩa vì những lý do sau:

đi trên dây

Bài viết “Một giai cấp vô sản mới” [1] của tác giả Chiêu Văn trên Tuổi trẻ Cuối tuần là một kiệt tác, không phải theo nghĩa Văn học, mà theo nghĩa xuất hiện như một Điều kiện Khả thể (condition of possibilities) cho phép những cách phân tích và am hiểu xã hội phù hợp hơn xuất hiện trong môi trường truyền thông Việt Nam. Nếu như không tính môi trường trường quy thì có lẽ đây là bài báo tiếng Việt đầu tiên phê phán Chủ nghĩa Tân tự do bằng khung nghiên cứu vô cùng thời thượng của ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn, đó là Tính bấp bênh (precarity). Nhà lý luận chính trị người Đức Isabell Lorey là người đã mở rộng chiều kích nghiên cứu về Sự bấp bênh (precariousness) – được hiểu như một khái niệm Bản thể học của triết gia Judith Butler. Với Lorey, Tính bấp bênh là sản phẩm của những dạng thức phân loại xã hội, pháp lý, và chính trị, nhằm phân chia Sự bấp bênh tập thể (shared precariousness) tới những nhóm khác nhau trong xã hội [2]. Tính bấp bênh xuất hiện như một sự ban thưởng, giả dụ nếu bạn là một người nghèo hoặc một người trong nhóm yếu thế tồn tại trong một xã hội thị trường, mặc cho điều kiện sống bấp bênh đến mấy, bạn vẫn sẽ tin vào một trái ngọt rơi vào đầu bạn vì nhóm tinh hoa vẫn làm tốt nhiệm vụ về kinh tế của mình, từ đó bạn liên tục lao động miệt mài để giữ vững guồng xoay sản xuất-tiêu thụ của tầng lớp tinh hoa đó. Dạng niềm tin vào một nền kinh tế nhỏ giọt (trickle down economy), có nghĩa là đánh đồng sự Phát triển của một xã hội với sự giàu có của một số cá nhân, tin rằng rồi một ngày sự giàu có đó sẽ may mắn chảy xuống nhóm nghèo xuất phát từ mô hình Tân tự do (Neoliberalism) của Ronald Reagan và Margaret Thatcher vào những năm 1980. Chủ nghĩa Tân tự do kêu gọi sự đóng góp sức lao động mù quáng từ từng cá nhân vì sự phát triển chung của xã hội, nhưng thực tế là tạo lợi ích to lớn cho các tập đoàn kinh tế và các nhóm lợi ích.

người đi trên dây
ảnh: WEF Forum

Nói đến đây, chúng ta nên quên luôn cuộc đối thoại về Chủ nghĩa cá nhân (individualism) và Chủ nghĩa tập thể (collectivism) theo nghĩa nguyên từ (etymologically speaking), nghĩa là nghĩa thuần khiết nhất của nó. Ngày nay, Chủ nghĩa Tân tự do đã thẳng tay xoá nhoà luôn tính cá nhân và tính tập thể, vì nó có thể bóc lột một người và bóc lột tất cả (each and all) dựa trên lập luận về một sự “phát triển”, “thịnh vượng”, một cái “tốt” tập thể vô cùng trừu tượng, một dạng tiêu chuẩn kép thích hiểu sao thì hiểu.

Trong “Một giai cấp vô sản mới”, tác giả trích dẫn khái niệm “precariat” của nhà nghiên cứu nhân văn Guy Standing, vốn là sự cộng gộp của “precarity” và “proletariat (vô sản)”. Đặt trong văn cảnh của thế giới đương đại, xã hội không chỉ được đặt trong mối quan hệ giữa “tư sản (bourgeoisie)” và “vô sản (proletariat)” nữa, thay vào đó, mối quan hệ sản xuất được đặt vào một loạt những đường giao (intersection) giữa nhiều yếu tố: Kinh tế (giàu – nghèo), Chính trị (state – non-state) Giới tính (nam giới – nữ giới), Chủng tộc (Trắng – Vàng – Đen), Sắc tộc (Kinh – Tày, Mường, Dao, Thái, v.v.), Văn hoá (Phương Tây – Phương Đông), Tôn giáo (Christianity, Islam, Phật giáo, vô thần, v.v.). Lấy một ví dụ đơn giản: Một người đàn ông dân tộc thiểu số có thể bị một người phụ nữ thuộc nhóm đa số bóc lột, một người thuộc nhóm LGBT giàu có có thể bóc lột một người dị tính nghèo, một CEO nữ ở Việt Nam có thể bóc lột hàng vạn nhân công nam giới ở Mỹ Latin, Trung Quốc và Châu Phi,… Với những mối quan hệ sản xuất phức tạp như vậy, bạn có thể mường tượng một người thuộc mọi nhóm yếu thế (nghèo, da màu, phụ nữ hoặc nghèo, người Việt, LGBT, v.v.) chịu những gánh nặng khủng khiếp thế nào từ nền kinh tế. Và cũng với những nguyên tắc phân loại nhằng nghịt thế này, Sự bấp bênh được chia không hề đồng đều vào từng ô, nhưng mặc cho sự nhằng nhịt như vậy, ta vẫn có thể thấy rất rõ sự tồn tại của một nhóm thống trị.

Đối với nhà xã hội học Chu Ly, dưới những quá trình thị trường hoá, toàn cầu hoá từ những năm 1990 trở lại đây, Việt Nam đã xuất hiện một tầng lớp tinh hoa mới (the new elite) xuất thân từ những doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá, cũng như từ những doanh nghiệp tư nhân đang làm chủ thị trường [3]. Sử dụng khung phân tích về Vốn (Capital) của nhà xã hội học Pierre Bourdieu, bà đã chỉ ra rằng không chỉ làm chủ về mặt kinh tế, nhóm này còn thống soát về mặt Văn hoá (Cultural Capital), ví dụ như đặt ra những tiêu chuẩn cho sự tinh hoa cũng như định nghĩa sự phát triển. Quyền lực lúc này không còn xuất phát từ một không gian chính trị, mà nó kéo dài trên mọi không gian thiết chế khác nhau, từ chính trị, kinh tế, văn hoá cho đến giáo dục. Vụ việc MobiFone mua 95% cổ phần của AVG gần đây là ví dụ cho sự xuất hiện của một tầng lớp tinh hoa “giao điểm” (intersectional elite) này ở Việt Nam [4].

Nếu như dừng lại ở đây, nhiều người sẽ lập luận rằng vậy cái “tốt” tập thể mà từng cá nhân nên hướng đến là xoá nhoà ranh giới giữa nhóm mạnh – nhóm yếu trong nội tại quốc gia, chống những văn hoá xấu từ phương Tây (FwB, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, cũng như ngừng tôn thờ phương Tây bằng cách donate tiền cho ông giáo Tây trong Sài Gòn đợt Covid-19). Nghe thì dễ và có vẻ lọt tai, nhưng… 

Từ những năm 1990, không gian của chủ nghĩa tư bản là một không gian thị trường toàn cầu, điều này có nghĩa là dù bạn là ai, xuất thân từ tầng lớp nào, ở quốc gia nào, tin vào ý thức hệ gì, thì bạn cũng đã phụ thuộc vào một chuỗi cung ứng khổng lồ toàn cầu rồi. Trong A thousand plateaus: Schizoprenia and Capitalism, Gilles Deleuze và Felix Guattari đã chỉ ra rằng chủ nghĩa tư bản không chỉ là một đặc sản có trung tâm là phương Tây lan rộng đi toàn cầu, mà nó là một hệ thống liên quốc gia liên tục tương tác qua lại lẫn nhau giữa cả Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc [5]. Mặc cho tuyên bố rằng mình không phải là một nước Tư bản, Liên Xô vẫn phải lao mình vào các cuộc chiến trong thị trường vũ khí và dầu mỏ. Vì lý do này, Deleuze và Guattari mô tả chủ nghĩa tư bản giống như một “vết dầu loang” bám vào tất cả mọi chỗ, bất kể phương Đông hay phương Tây. Logic này còn có thể được mở rộng thông qua khái niệm chủ nghĩa tư bản Đế chế (Empire) của Antonio Negri và Michael Hardt, trong đó với sự xuất hiện của một thị trường toàn cầu, căn tính đã được cạo nhẵn, chỉ để trơ lại tư bản [6]: xét về nhân công giá rẻ cũng như tài nguyên thiên nhiên, ở điểm này Trung Quốc sẽ vận hành chủ nghĩa tư bản hiệu quả hơn bất cứ một nước phương Tây nào, không phải vì giỏi, mà vì có sự dư thừa cả về người lao động và người tiêu thụ.

Như vậy, logic Phương Tây gắn liền với cá nhân còn Phương Đông gắn liền với tập thể là vô cùng sai lầm, vì thứ nhất, như Negri và Hardt chỉ ra, căn tính là thứ bị cạo nhẵn đầu tiên trong thị trường quốc tế; thứ hai, với ảo ảnh về một loại chính trị căn tính không có chính trị giai cấp dẫn đến một sự thật rằng chủ nghĩa tư bản tân tự do ở các nước Á Đông có thể tận dụng luôn hệ thống nam quyền và nho giáo nội địa để bóc lột con người. Ví dụ rõ ràng nhất đã được VOGE đưa ra: “Sinh đẻ đang bị coi là trách nhiệm cộng đồng, trong khi nuôi dạy con sau khi sinh đẻ lại là trách nhiệm cá nhân [của người phụ nữ].”[7] Người ta có thể lấy rất nhiều ví dụ được chắp vá bằng đạo đức dựa trên câu chuyện ưu tiên sinh đẻ hơn tự do tình dục, song ta cần nhìn vào một thực tế là không có một số liệu nào chứng minh được hầu hết nữ giới trẻ ở Việt Nam đều quẹt Tinder, chán đời sống gia đình và thích Fwb. Lập luận chống lại tự do tình dục kiểu đó đang góp phần làm mờ đi những khó khăn về sinh sản mà toàn bộ các thế hệ phụ nữ trong suốt lịch sử phải chịu đựng, từ đó biến người mẹ trở thành cỗ máy sinh lời cho chủ nghĩa Tân tự do: vừa là người nhân công sản xuất ra thêm con người, vừa là cái nhà máy. Nên nhớ, Labor có 2 nghĩa: (1) Lao động; (2) Mang thai.

Chúng ta cần nhìn thẳng vào một thực tế mà bác Nguyễn Thiện Nhân đã nêu rất rõ trong buổi gặp mặt ngày 13.01.2020 với người Việt sinh sống tại nước ngoài: “Tại sao đẻ ít? Xin nói lại, không được phê bình nữa. Có người nói là do phụ nữ TP.HCM lười đẻ. Câu nói ấy hoàn toàn sai. Bởi chúng ta không tạo điều kiện cần thiết thì về mặt con người họ phản ứng như thế là đúng. (0:46-0:57)”[8] Sự thật là với một đời sống kinh tế bấp bênh cùng sự tốn kém cả về mặt thể chất lẫn tinh thần, mang thai không phải một quyết định dễ dàng. Có lẽ bác Nhân cũng sẽ đồng ý với Isabell Lorey về “Sự khủng hoảng của tập thể tính là cơ hội cho phúc lợi chung” (Crisis of the Collective, Chances for the Common – tr.5 State of Insecurity): hãy ngừng đổ tội cho một chủ nghĩa cá nhân trừu tượng nào đó, hãy ngừng đổ trách nhiệm lên đầu người phụ nữ về già hoá dân số, hãy nhìn vào những cơ hội có thể mở ra nếu như chúng ta có một hệ thống phúc lợi xã hội tốt hơn: “Giáo dục phải làm tốt hơn, có tiền mua bảo hiểm y tế cho các cháu nhỏ, chương trình sữa học đường. Nhưng mà lâu dài hơn thì người lao động phải làm ít hơn 8 tiếng […] Chúng ta đối diện với thực tế là nơi có năng suất lao động cao nhất cả nước thì người lao động làm dài nhất cả nước, lâu nhất cả nước. Về mặt cá nhân tôi cho rằng điều đó là không hợp lý. Xu hướng loài người là năng suất càng tăng, thời gian làm việc càng ít đi, để lo gia đình, lo học hành. (1:38-2:41)”

Để kết bài viết, tôi muốn trích dẫn lời của Anthony Painter – Giám đốc trung tâm RSA, Châu Âu: “Người lao động hiện thời phải đối mặt với một lựa chọn không thể dung hòa giữa công việc, gia đình và sức khỏe của họ. Với một mức thu nhập cơ bản phổ quát, họ sẽ biết rằng có một mạng lưới an sinh giúp họ giảm bớt sự xung đột đó.”

Tham khảo:
[1] https://cuoituan.tuoitre.vn/tin/20200430/mot-giai-cap-vo-san-moi/1556974.html?fbclid=IwAR146J13AN_6U2SN-Y9r6gyYVAGLMTDsese6HYrdQK225Juz7nUB3mVcR3Y
[2] Lorey, I. (2015), State of Insecurity. London: Verso.
[3] Chu, L. (2018). The Quest for Research on Social Class in Contemporary Vietnam. Journal of Vietnamese Studies, 13(1), 42–79.
[4] https://tuoitre.vn/vi-sao-cuu-chu-tich-avg-pham-nhat-vu-huong-hon-5-800-ti-nhung-thoat-toi-2019101917041077.htm
[5] Deleuze, G & Felix Guattari (2005), “Introduction: Rhizome” in pp. 1-25, A thousand plateaus: schizophrenia and capitalism, University of Minnesota Press, Minneapolis & London.
[6] Negri, A & Michael Hardt (2000), Empire, Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press.
[7] https://www.facebook.com/voge.vn/photos/a.1727778070844813/2887686161520659/?type=3&theater
[8] https://thanhnien.vn/video/thoi-su/ong-nguyen-thien-nhan-tai-sao-phu-nu-tphcm-de-it-144977.html?fbclid=IwAR2J41w97zMKKyQTKs49eoBlsYblPc0pXyelMEVyDkgvYJd9pKf6ajb0hHk

Leave a Reply

Your email address will not be published.