Agnes Callard – Tận thế đang đến

Có thể đây không phải sự diệt vong của loài người. Nhưng đại dịch đang từ từ lan ra vòng quanh thế giới theo cấp số nhân, giết một vài trong số chúng ta và ảnh hưởng tới tất cả chúng ta. Và đại dịch này mới chỉ là tai ương gần nhất và bất ngờ nhất trong một chuỗi các tai ương chuẩn bị đến với nhân loại.

10/10 US-ATTACKS-2ND YEAR ANNIVERSARY The rubble of the World Trade Center smoulders following a terrorist attack 11 September 2001 in New York. A hijacked plane crashed into and destroyed the landmark structure. The all-out war on terrorism unleashed by Washington after the attacks marked a turning point in US-Arab relations and nowhere more so than in once top ally Saudi Arabia. With 15 of the 19 suicide hijackers carrying Saudi nationality and mastermind Osama bin Laden being the scion of a leading Saudi family, the desert kingdom and world oil kingpin, suddenly found itself on the frontline of the war on terror prosecuted by US President George W. Bush. AFP PHOTO/Alex Fuchs (Photo credit should read ALEX FUCHS/AFP/Getty Images)

Bài gốc của The Point – dịch bởi Vũ Hoàng Long

1.

Cảnh phim Children of Men

Có thể đây không phải sự diệt vong của loài người. Nhưng đại dịch đang từ từ lan ra vòng quanh thế giới theo cấp số nhân, giết một vài trong số chúng ta và ảnh hưởng tới tất cả chúng ta. Và đại dịch này mới chỉ là tai ương gần nhất và bất ngờ nhất trong một chuỗi các tai ương chuẩn bị đến với nhân loại. Chúng ta đang ráo riết thay thế môi trường tự nhiên với một thứ mà, một mặt, được làm ra bởi con người, và mặt khác, đã được chứng minh là rất khó cho con người để có thể quản lý – một tình huống mà chúng ta đang nói một cách hoa mỹ là “biến đổi khí hậu”. Trên mặt trận chính trị, chúng ta đã chứng kiến tại thập kỷ vừa rồi những cuộc bất tuân dân sự diễn ra trên toàn thế giới, và đã có rất nhiều lãnh đạo của các quốc gia trên thế giới có đủ lý do để cho chúng ta những thông điệp chính trị đầy bi quan, thay vì lạc quan về viễn cảnh của một nền dân chủ toàn cầu như trước đây. Trước bối cảnh công nghệ đang ngày càng rẻ mạt, vũ khí, bao gồm cả những vũ khí huỷ diệt, cũng sẽ được chế tạo ra với số lượng lớn nhanh chóng mà ta không để ý. Tất cả những tai ương phía trên đang xảy ra thêm một lần nữa để chống lại nền tảng của một nền kinh tế chậm tăng trưởng và tiền lương bị đình đốn, ít nhất hiện tượng này đã xảy ra tại các quốc gia giàu có nhất thế giới. 

Có thể chúng ta chưa chạm tới ngưỡng tận thế, nhưng hẳn là chúng ta đã nghĩ tới viễn cảnh này. Các vấn đề về y tế, môi trường, chính trị, kinh tế, và quân sự dường như đã ngồi chung một chiến tuyến cốt để nhắc nhở chúng ta rằng câu chuyện về nhân loại đang cần có đoạn kết. Đó là một suy nghĩ đau đớn. Vì thế nó cũng gợi ra một loạt những câu hỏi triết học. 

Triết gia Samuel Scheffer đã minh họa vấn đề của những ám chỉ về “tình huống cằn cỗi” trong Children of Men. Trong bộ phim, loài người đã mất khả năng sinh sản, và tri thức về một ngõ cụt cho tương lai của loài người đã sản sinh ra một thế giới trong đó những thảm hoạ được đối mặt với tương tự như nhau. Chúng ta chứng kiến sự thống khổ trên một diện rộng, chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc thảm sát – và tất cả những điều này tưởng như chẳng có nghĩa lý gì với tất cả mọi người. 

Trong quá trình đối diện với sự tận diệt này, quả là phi thường khi những tri thức có vẻ bình thường nhất rằng “chúng ta là những con người cuối cùng còn sót lại” có thể dẫn tới sự sụp đổ về mặt chính trị cũng như về mặt đạo đức một cách toàn diện. Scheffer tin rằng kịch bản này có thể xảy ra. Ông giải thích rằng có rất nhiều thực hành của chúng ta như tìm kiếm phương thuốc chữa bệnh ung thư, xây một cao ốc mới, viết một bức thư hay một tiểu luận triết học, đấu tranh cho một vấn đề chính trị, dạy cho con em chúng ta những giá trị đạo đức mà chúng ta hi vọng rằng có thể được truyền lại ngay lập tức, lặp đi lặp lại qua các thế hệ, phụ thuộc vào hoàn cảnh của một thế giới sẽ tiếp tục sống tiếp mà không có chúng ta. Ý nghĩa của cuộc đời chúng ta, tại đây và bây giờ, phụ thuộc vào những thế hệ tương lai, nếu thiếu những thế hệ đó thì tại đây ta sẽ trở nên vị kỷ, tàn ác lãnh đạm với mọi sự thống khổ và vô cảm. 

Về cá nhân tôi, đầu tiên, tôi hiểu luận điểm của Scheffer là gì: nó đã cho tôi cảm giác sợ hãi giống như một đứa trẻ khi phải “thưởng ngoạn” rằng thế hệ của con trai tôi sẽ là thế hệ người cuối cùng trên trái đất này. Tôi không cho phép chính mình tưởng tượng về viễn cảnh nhân loại bị bóc tuột ra khỏi trái đất, ngay cả trong những góc cằn cỗi nhất của suy tư của tôi. 

Cảnh hay nhất trong Children of Men là cảnh ngay trước cảnh cuối, trong một trận đấu súng đẫm máu trong một căn hộ: tất cả ngừng làm những việc họ đang làm khi nghe tiếng khóc của một em bé khi nó được bế ra khỏi không gian tanh tưởi của trận giết chóc. Họ dừng bắn, không phải vì muốn đứa trẻ an toàn, cũng chẳng phải vì muốn hăm doạ nó, mà họ chỉ muốn nhìn đứa trẻ – họ bị đứa trẻ làm cho say mê, và thấy kỳ diệu. Họ thà nghe tiếng khóc của đứa bé còn hơn là né một viên đạn đang lao đến, hoặc đâm một kẻ tấn công. Đứa trẻ là bước hạ màn đầy đạo đức cho một thế giới vô đạo đức và đen tối; đứa trẻ là tia sáng le lói cho một khả năng rằng sự sống của loài người có thể xứng đáng để được chiến đấu vì. Những thế hệ sau xứng đáng, bởi vì họ là điều kiện khả thể của mọi sự tốt đẹp, cũng như mọi sự xấu xa của mọi thế hệ đang sống ở khoảnh khắc này. Vậy là tôi đã đề xuất bộ phim, và Scheffer đồng ý. Nhưng tốt nhất là những bình luận của ông nên sai.

2.

Cảnh tượng sau vụ khủng bố ngày 11/9/2001 (Andrea Booher/FEMA News Photo)

Bởi vì đây là điều chắc chắn chúng ta nên biết: không phải lúc nào cũng luôn có thế hệ tiếp nối. Đây là sự thật. Nếu virus không làm ta lâm vào tình cảnh này, nếu ta không làm chính mình rơi vào tình cảnh này, nếu ta cố gắng làm mọi thứ cân bằng và bền vững nhất vào lúc này, thì một quả cầu lửa trên trời rồi cũng sẽ rơi xuống chỗ chúng ta. Chúng ta có thể kể cho nhau nghe những câu chuyện êm dịu, ví dụ như câu chuyện về việc bay đến một hành tinh mới, nhưng chúng ta chỉ là một dạng thức của sinh vật sống, có nghĩa là, xét trên một hệ quy chiếu về địa lý và thời gian, giống loài ta sẽ không tồn tại mãi mãi. Cái chết đã phủ bóng lên những giống loài khác, và rồi sẽ phủ bóng lên cả chúng ta. 

Chúng ta còn bao nhiêu thời gian? Trong một bài thuyết trình, nhà kinh tế học Tyler Cowen ước lượng ta còn khoảng 700 năm. Nhưng ai biết được. Điều quan trọng là câu trả lời sẽ không phải vô tận thời gian. Mãi mãi là một khoảng thời gian rất dài, và nhân loại sẽ không tồn tại đến lúc đó. 

Một cuộc khủng hoảng về ý nghĩa đang phủ bóng, thứ sẽ chỉ được suy nghĩ sâu hơn nếu ta thực sự cảm thấy rằng mình đang gần kề tận thế. Công trình của Scheffer bị kết tội phải sụp đổ. Cũng giống như ý nghĩ của một số người cho rằng tích trữ thực phẩm sẽ dẫn đến sự cạn kiệt, tương tự như vậy, viễn cảnh về một tương lai xa suy nhược, bất bình và hao hụt năng lượng đã cướp đi tương lai của những khả thể trong đó cấp nghĩa cho những tương lai gần hơn, và liên tục tiếp diễn, trong một hiệu ứng bông tuyết đảo ngược, cho tới khi ta có một thực tại suy nhược, bất bình và hao hụt năng lượng. 

Thế hệ cuối cùng sẽ là chiếc trục vận hành của toàn bộ hệ thống. Nhưng làm thế nào để đời họ có nghĩa, nếu suy nghĩ mơ hồ về bờ vực đẩy họ tự triệt hạ chính mình trong trầm cảm và hoảng loạn? Câu trả lời là thế hệ cuối cùng phải được tạo nên từ những người dũng cảm hơn chúng ta hiện giờ rất nhiều, và nhiệm vụ của chúng ta là phải giúp họ dũng cảm theo cách như vậy. Chúng ta phải dấn thân vào bước đi đầu tiên, học cách biến điều bất khả tri trở thành khả tri, cốt để thế hệ tới có thể bước bước chân cuối cùng.

Vào ngày 11 tháng 9, một vài hành khách trên chuyến bay 93 của United Airlines đã có những nghĩa cử anh hùng: họ nổi dậy chống lại những kẻ khủng bố đang biến họ thành con tin, với kết quả là máy bay của họ đã lao xuống một bãi đất trống thay vì lao vào điện Capitol. Nhìn ở một góc độ cụ thể, bạn có thể mường tượng tại sao điều này thật ấn tượng: nếu bạn biết đằng nào mình cũng chết, không bằng cách này thì cũng bằng cách khác, tại sao không làm điều gì đó tốt vào khoảnh khắc cuối đó? Nhưng đây có thể là một sai lầm. Bạn sẽ mất một năng lượng, sự đam mê và sự kết án không tưởng để chống lại những kẻ bắt giữ, và hội họp tất cả để đối diện với cái chết không tránh khỏi – đó là một bước đi kinh hoàng. Sự can đảm là vẫn còn có điều gì đó có nghĩa đối với bạn rất nhiều, kể cả sau đó bạn biết mình sẽ chết. Sự can đảm có nghĩa là nhìn thấy giá trị của đời bạn là thứ gì đó vượt qua cả sự sống sót, đó là sống một cách đạo đức, chứ không chỉ đơn thuần sinh học.

Giờ theo một nghĩa cụ thể, có liên đới đến thế hệ cuối, rằng những hành khách của chuyến bay 93 đã có một bước đi dễ dàng. Họ có thể nói với chính mình: “Vẫn còn điều gì đó có nghĩa – mạng sống của những người khác và những con người trong tương lai.” Xung lực vượt qua sự lo lắng cho người khác đủ mạnh để điều phối năng lượng, những dự phóng, những bám chấp cũng như những sự cam kết của họ, để dấn thân tới điểm kết. Scheffer tưởng như đã đúng khi nói rằng mọi dự án nhân văn đều thất bại khi đi tới tình huống kiệt quệ. Và chúng ta có thể nhìn thấy điều này ở một văn cảnh hẹp hơn bằng cách chứng kiến rằng sẽ không ai dám cầm cây violin, xây dựng một nhà thờ, hay tìm một phương pháp chữa ung thư một vài giờ trước cái chết của họ. Vậy chúng ta phải hỏi, thế hệ cuối cùng sẽ quan tâm và dành hết tâm sức cho điều gì?

Tôi không biết câu trả lời, và cũng không màng đến là có thật sự có câu trả lời hay không. Nhưng tôi biết rằng bản năng rút lui khỏi việc chất vấn điều đó quả là hèn nhát, và sự kinh hãi tôi cảm thấy khi phải nghĩ tới câu hỏi này phải được vượt qua.

3.

Cảnh tượng sau vụ khủng bố 11/9/2001 (Photo credit should read ALEX FUCHS/AFP/Getty Images)

Chúng ta đang sống trong một thời điểm đáng sợ. Chúng ta cần làm mọi thứ có thể để kéo dự án nhân loại ra càng dài càng tốt, nhưng chúng ta cũng nên trân trọng sự thật rằng ta không thể trì hoãn được câu hỏi về ý nghĩa của dự án này ngay lập tức. Có hai tác vụ không giống nhau, thuộc về những nhóm người khác nhau. 

Trong một khoảng thời gian dài, triết học và những ngành nhân văn khác đã lo lắng tới việc làm thế nào để tạo ra những giá trị tương đương với những ngành khoa học tự nhiên. Nhưng không phải nhờ khoa học tự nhiên mà chúng ta mới ngộ ra rằng những phát kiến khoa học sẽ không kéo dài vô tận. 

Các nhà nhân văn chưa bao giờ thực sự đứng trong tác vụ phải tạo ra tăng trưởng. Công việc của họ là cảm được và truyền đi những cái nắm chắc về bản chất của giá trị của những trải nghiệm nhân tính; đây là công việc khó nhằn và liên tục được nâng tầm về sự quan trọng cốt để làm cân đối với nhận thức rằng rồi mọi thứ trên đời này đều sẽ mất đi. Công việc của các nhà nhân văn là đảm bảo rằng, khi tình huống kiệt quệ xảy đến, và nếu nó có xảy đến, giá trị của cuộc đời này sẽ không tan biến trong nhân loại. Chúng ta phải trở thành những chuyên gia về sự vô thường, những nhà chuyên môn về sự mất mát, những nhà khoa học của bi kịch. 

Ở thời khắc này, khi cánh cửa sổ mở ra và toàn bộ nhân loại đã thấy tận thế ở tương lai đang thúc giục chúng ta, nhiệm vụ của những nhà nhân văn phải là từ chối nhắm mắt. 

Thế hệ cuối cùng đến: những nhà khoa học và những chính trị gia phải lao động để trì hoãn cái kết cuối càng lâu càng tốt, còn những nhà nhân văn thì đối lập, họ phải giúp chúng ta sửa soạn chính mình đợi tận thế tới.

Đọc thêm: Nghiên cứu Nhân văn đã cho tôi biết gì về cách nhìn đời

Leave a Reply

Your email address will not be published.